Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Bình thường
Đơn điệu
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Ảnh ngẫu nhiên

    DSC_0162.jpg DSC_0157.jpg 1378387855638.jpg IMG_2465.jpg IMG_2434.jpg IMG_2451.jpg IMG_2457.jpg IMG_2458.jpg IMG_24351.jpg IMG_24401.jpg IMG_2462.jpg IMG_2527.jpg IMG_09631.jpg IMG_0984.jpg IMG_0976.jpg IMG_0974.jpg IMG_0972.jpg

    Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Chào mừng quý vị đến với website của NGUYỄN TRƯỜNG TRUNG

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > LỊCH CÔNG TÁC TRONG TUẦN >

    Sáng kiến kinh nghiệm 2012-2013

    LỜI NÓI ĐẦU

     

              Đất nước ta đang trong thời kì hội nhập mạnh mẽ , tạo nên những bước chuyển biến tích cực về toàn bộ đời sống kinh tế , văn hóa , chính trị khẳng định đường lối , chủ trương đúng đắn của Đảng và nhà nước đưa nước ta lên tầm cao mới . Hòa chung với sự chuyển biến tích cực ấy , ngành giáo dục và đào tạo cũng có những chuyển biến mạnh mẽ , tích cự để theo kịp sự phát triển toàn diện của xã hội . Bên cạnh những thành quả hết sức đáng ghi nhận của ngành giáo dục thì chúng ta , những nhà giáo dục cũng phải nghiêm khắc và thừa nhận những tác động tiêu cực mặt trái của cơ chế thị trường đến ngành giáo dục ; Những sự yếu kém trong công tác quản lí ; Vấn nạn của ngành giáo dục là tình trạng dạy thêm học thêm ; Bệnh thành tích trong thi cử ; Chất lượng đào tạo không thực chất ; Bạo lực học đường …làm cho dư luận xã hội bất bình lên tiếng .

              Đứng trước thực trạng những  tồn tại , yếu kém của ngành giáo dục nước nhà và với những quyết tâm của ngành giáo dục từng bước làm trong sạch nội bộ lấy lại niềm tin của nhân dân , của công luận . Nằm trong khuôn khổ các hoạt động đó Chỉ thị số 40/2008/CT-BGD&ĐT ngày 27 tháng 8 năm 2008 của Bộ về việc phát động phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện – Học sinh tích cực ”  ra đời  nhằm tạo ra một môi trường học tập thân thiện và từng bước khắc phục những tồn tại , yếu kém bất cập của ngành .

              Là một nhà giáo , một nhà quản lí khi được tiếp cận chỉ thị bản thân tôi vô cùng tâm đắc với những định hướng của ngành . Thực hiện sự chỉ đạo của Sở ; Phòng GD-ĐT trong công tác triển khai thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện – Học sinh tích cực ” cùng với tinh thần trách nhiệm của bản thân , cá nhân đã trăn trở áp dụng nhiều biện pháp , giải pháp nhằm tạo ra sự chuyển biến rõ nét trong nhà trường . Với tinh thần ấy kết hợp với sự đồng sức , đồng lòng của đội ngũ CBGV-CNV ; sự hưởng ứng tích cực từ PHHS cho đến thời điểm này , sau 5 năm đối mặt cùng những gian nan , vất vả bộ mặt nhà trường đã có nhiều thay đổi ngoạn mục , CSVC đảm bảo ; Chất lượng đào tạo mặt bằng cũng như mũi nhọn được nâng cao rõ rệt , Không để xảy ra tình trạng học sinh bỏ học ; Không xảy ra tình trạng bạo lực học đường ; Tạo được tâm lí thích đến trường từ học sinh ; Tạo được sự tin yêu từ PHHS và cấp ủy Đảng , Chính quyền địa phương  … Để có được những thành quả ấy chính là sự nỗ lực tổ chức thực hiện phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện – Học sinh tích cực ” và đó chính là hiệu quả rõ nét nhất của phong trào .

              Chính vì những lí do trên , bản thân tôi mạnh dạn tổng hợp những kinh nghiệm , ý tưởng của cá nhân đã thực hiện trong suốt 5 năm qua có sự kiểm nghiệm – đánh giá tại cơ sở bằng đề tài : Vai trò của CBQL trong công tác xây dựng phong trào  “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực ”   hi vọng rằng sẽ tạo được sự quan tâm đóng góp của đồng chí , đồng nghiệp để đề tài này hoàn thiện hơn trong tương lai . Xin trân trọng cám ơn !

     


    MỤC LỤC

     

    MỤC

    NỘI DUNG

    TRANG

    I.

    Phần mở đầu:

    I.1.

    Lý do chọn đề tài.

    01

    I.2.

    Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

    03

    I.3.

    Đối tượng nghiên cứu.

    03

    I.4.

    Giới hạn phạm vi nghiên cứu.

    03

    I.5.

    Phương pháp nghiên cứu.

    03

    II.

    Phần nội dung:

    I.1.

    Cơ sở lý luận.

    03

    I.2.

    Thực trạng.

    04

    a.

    b.

    c.

    d.

    e .

    Thuận lợi - khó khăn.

    04

    Thành công - hạn chế.

    05

    Mặt mạnh - mặt yếu.

    06

    Các nguyên nhân, các yếu tố tác động.

    06

    Phân tích , đánh giá thực trạng những vấn đề mà đề tài đặt ra

    07

    I.3.

    Giải pháp, biện pháp.

    08

    a.

    b.

    c.

    d.

    e.

    Mục tiêu của giải pháp, biện pháp.

    08

    Nội dung và cách thức thực hiện giải pháp, biện pháp.

    08

    Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp.

    15

    Mối quan hệ giữa các giải pháp, biện pháp.

    15

    Kết quả khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

    16

    I.4.

    Kết quả thu được qua khảo nghiệm, giá trị khoa học của vấn đề nghiên cứu.

    16

    III.

    Phần kết luận, kiến nghị:

    a .

    b.

    c.

    d.

    e.

    Kết luận

    16

    Kiến nghị

    17

    Phần đánh giá – nhận xét

    18

    Danh mục tài liệ tham khảo

    19

    Một số hình ảnh minh họa

    20

     


     

    A- PHẦN MỞ ĐẦU

     I.1-LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI .

     

              “Trường học thân thiện ” là mô hình trường do Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) đề xướng từ những thập kỷ cuối của thế kỷ trước, và đã được triển khai có kết quả tốt ở nhiều quốc gia trên thế giới .  Tuy  nhiên  ở nước ta ,  Bộ Giáo dục và Đào tạo bắt đầu phát động phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiên, học sinh tích cực" trong các trường phổ thông, mầm non trên phạm vi toàn quốc bắt đầu từ năm học 2008-2009 và phát động phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiên, học sinh tích cực" giai đoạn 1 : 2008-2013

              Trong thực tế , phong trào này đã được triển khai một cách rầm rộ và đã có những bước chuyển biến tích cực đồng thời có tác động khá mạnh đến chất lượng và hiệu quả của các cơ sở giáo dục đặc biệt trong việc xây dựng các mối quan hệ Thầy – Thầy ; Trò- Trò ; Thầy – Trò ; Cơ sở giáo dục với các tổ chức chính trị xã hội … Tuy nhiên trong quá trình tổ chức thực hiện phong trào này , thực tế ở cơ sở  vẫn tồn tại nhiều hạn chế  đặc biệt trong việc nhận thức và hiểu biết về bản chất của phong trào trong góc độ quản lí để từ đó có kế hoạch xây dựng và tổ chức thực hiện phong trào một cách có hiệu quả . Vậy bản chất của phong trào thi đua "Xây dựng trường học thân thiên, học sinh tích cực" là gì ?

    1. Mục tiêu

        a) Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài trường học để xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội.

        b) Phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh trong các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng.

    2. Yêu cầu

        a) Giải quyết dứt điểm những yếu kém về cơ sở vật chất, thiết bị trường học, tạo điều kiện cho học sinh khi đến trường được an toàn, thân thiện, vui vẻ.

        b) Học sinh tham gia các hoạt động giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng một cách hứng thú, với thái độ tự giác, chủ động và ý thức sáng tạo.

        c) Thầy giáo, cô giáo chủ động, sáng tạo đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp giáo dục trong điều kiện hội nhập quốc tế.

        d) Các tổ chức, cá nhân góp phần giáo dục văn hóa, truyền thống lịch sử cách mạng cho học sinh.

        đ) Phong trào thi đua đảm bảo tính tự giác, không gây áp lực quá tải trong công việc của nhà trường, sát với điều kiện ở cơ sở.

    3. Nội dung

        a) Xây dựng trường, lớp xanh, sạch, đẹp, an toàn.

        b) Dạy và học có hiệu quả, phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của học sinh ở mỗi địa phương, giúp các em tự tin trong học tập.

        c) Rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh.

        d) Tổ chức các hoạt động tập thể vui tươi, lành mạnh.

        đ) Học sinh tham gia tìm hiểu, chăm sóc và phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng ở địa phương.

    Nguồn tham khảo “Khái niệm về trường học thân thiện – học sinh tíc cực” - Internet

     

              Tóm lại  : Trường học thân thiện phải là nơi mà mọi thành viên đều là bạn, là đồng chí, là anh em; giáo viên nêu cao tinh thần “càng yêu người bao nhiêu, càng yêu nghề bấy nhiêu”. Mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường trở nên nhẹ nhàng, vui tươi, hấp dẫn mọi người, nhất là người học . Người học chủ động , tích cực tự tư duy , tìm tòi , sáng tạo để chiếm lĩnh kiến thức một cách chủ động , sáng tạo và có ý thức chọn lọc .Nhà trường học gắn bó mật thiết với địa phương ; các tổ chức chính trị xã hội trên địa bàn và PHHS nhằm mục đích xây dựng nhà trường  có chất lượng giáo dục toàn diện và  hiệu quả giáo dục đào tạo không ngừng được nâng cao.
              Để đạt được điều đó, vai trò của Hiệu trưởng nói riêng và CBQL nói chung là cực kì quan trọng  bởi trong nhà trường  hiệu trưởng tựa như một “nhạc trưởng” và có vị trí cực kỳ quan trọng. Cuộc vận động đã được “phát”và muốn để nó “động” thì CBQL của các cơ sở giáo dục phải hiểu đúng bản chất  của phong trào để chủ động , linh hoạt , sáng tạo vận dụng một cách nhuần nhuyễn nhiều phương pháp , biện pháp nhằm phát huy hiệu quả phong trào này tránh tình trạng “Đầu voi đuôi chuột” làm mất đi hiệu quả của phong trào .

              Là một hiệu trưởng và là người đã tổ chức phát động-  thực hiện  phong trào ngay từ những ngày đầu khi Bộ triển khai . Trong suốt quá trình tổ chức thực hiện phong trào , với tư cách là người hoạch định kế hoạch và chỉ đạo tổ chức thực hiện kế hoạch , bản thân cũng  không tránh khỏi những thiếu sót do chủ quan , ngộ nhận hoặc nhìn nhận bản chất vấn đề chưa thực sự thấu đáo . Tuy nhiên với sự nỗ lực , tâm huyết , dũng cảm của bản thân cũng như tập thể nhà trường đã dũng cảm nhìn thẳng vào thiếu sót , yếu kém và biết đứng dậy và đi lên từ những sai lầm ,khuyết điểm  vì vậy trong hội nghị sơ kết thi đua giai đoạn 2008-2011 , cá nhân tôi đã được Giám đốc SGD-ĐT tặng giấy khen “Có nhiều thành tích xuất sắc trong phong trào Xây dựng THTT-HSTC giai đoạn 2008-2011” . Từ những thất bại của bản thân trong việc nhận thức về phong trào ;  từ những kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình thực hiện trong suốt 5 năm 2008-2013 và trên cơ sở những thành tích mà nhà trường đã đạt được bản thân mạnh dạn tổng hợp những kinh nghiệm trong công tác chỉ đạo trong suốt 5 năm với nguyện vọng để đồng chí đồng nghiệp cùng tham khảo . Với tinh thần đó , bản thân mạnh dạn lựa chọn đề tài : “Vai trò của CBQL trong công tác xây dựng phong trào THTT-HSTC ”  trên cơ sở những bài học kinh nghiệm mà bản thân rút ra được từ thực tiễn chỉ đạo .

     


    I.2- MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI .

    1- Mục tiêu :

    1. Tổng hợp các kinh nghiệm thực tiễn trong quá trình chỉ đạo , tổ chức thực hiện phong trào cho đồng nghiệp tham khảo , góp ý bổ sung cho đề tài hoàn thiện hơn để có thể ứng dụng rộng rãi trong và ngoài nhà trường .
    2. Giúp CBQL có thêm những thông tin cụ thể về phong trào để tìm hiểu , vận dụng phù hợp với thực tiễn của từng đơn vị nhằm phát huy tối đa hiệu quả của phong trào .
    3. Tranh thủ sự góp ý của các nhà chuyên môn để hoàn thiện đề tài .

    2- Nhiệm vụ của đế tài : Cung cấp những kinh nghiệm đã áp dụng và thực hiện có hiệu quả tại đơn vị để đồng nghiệp tham khảo đồng thời nêu lên những định hướng cho giai đoạn tiếp theo  nhằm tổ chức thực hiện phong trào có hiệu quả cao nhất .

     

    I-3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU :

    -         Chủ thể : CBGV-CNV ; Học sinh trong nhà trường  và nhận thức của chủ thể về phong trào. Hiệu quả của từng hoạt động trong phong trào tác động đến chất lượng và các hoạt động khác của nhà trường.

    -         Khách thể : Đánh giá , nhận xét của các tổ chức chính trị - xã hội ; Sự vào cuộc của PHHS và thái độ ủng hộ hoặc phản đối đối với việc tổ chức thực hiện phong trào .

     

    I-4 . GIỚI HẠN VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU  : Trong khuôn khổ các hoạt động của phong trào được áp dụng phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường

     

    I-5 : PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .

    -         Phương pháp quan sát .(PP)

    -         PP nêu vấn đề .

    -         PP so sánh đối chiếu hiệu quả thực hiện  - kế hoạch đề ra .

    -         PP thảo luận .

    -         PP tuyên truyền – vận động ( Dân vận ).

     

    II- PHẦN NỘI DUNG

    II-1 . CƠ SỞ LÍ LUẬN .

              Trở lại với nội dung phần lí do chọn đề tài , để thực hiện tốt và có hiệu quả các hoạt động của phong trào thì người CBQL phải hiểu đúng bản chất của vấn đề phù hợp với thực tiễn đơn vị minh đang phụ trách . Vì vậy câu hỏi Thế nào là “trường học thân thiện – Học sinh tích cực?”  phải luôn thường trực trong đầu của người QL để định hướng cho phù hợp với điều kiện hiện tại của đơn vị mình đang phụ  trách.
               Khái niệm  “Thân thiện”  được hiểu là “Thân ái và có thiện cảm”. ( Từ điển Tiếng việt – NXB Từ điển bách khoa ) Bản thân khái niệm “thân thiện” đã hàm chứa sự bình đẳng, dân chủ về pháp lý và sự đùm bọc, cưu mang đầy tình người về đạo lý. Như vậy “Trường học thân thiện ” là một cơ sở giáo dục có sự đùm bọc , yêu thương , gắn bó giữa các thành viên trong nhà trường ; có mối quan hệ xã hội tốt với các tổ chức chính trị xã hội tại địa phương ; Có sự nhận xét – đánh giá một cách khách quan , trung thực , công bằng và vô tư và bình đẳng trong việc thực thi nghĩa vụ - quyền lợi và trách nhiệm của các thành viên trong nhà trường . Bởi vậy nếu để  nội bộ nhà trường xảy ra tình trạng bất  bình đẳng, mất dân chủ, vô cảm trong quan hệ giữa người với người thì khái niệm “Thân thiện ” không tồn tại  .“Trường học thân thiện” đương nhiên phải “thân thiện” với địa phương - địa bàn hoạt động của nhà trường; phải “thân thiện” trong tập thể sư phạm với nhau; giữa tập thể sư phạm với học sinh; “Trường học thân thiện” phải đảm bảo cơ sở vật chất phù hợp với yêu cầu giáo dục và thỏa mãn tâm lý người thụ hưởng. Để giải quyết được vấn đè này , vai trò của người lãnh đạo cực  kì quan trọng .

              Khái niệm “Tích cực ” được hiểu là “Có tính cách tiến tới thực sự ” ( Từ điển Tiếng việt – NXB Từ điển bách khoa ) Như vậy cụm từ  “Học sinh tích cực” muốn nói đến việc nhà trường phải có phương pháp , biện pháp để GD học sinh có nhân cách sống toàn diện và có bản lĩnh , tính cách hướng tới tương lai ; tiến tới và chinh phục những tầm cao mới một cách linh hoạt , chủ động , sáng tạo không dập khuôn máy móc. Học sinh được làm quen và tiếp cận với những sự thay đổi của xã hội thông qua các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ; GDKN sống …để hòa nhập với nhịp sống hối hả của xã hội .

              Tóm lại : Mô hình “Trường học thân thiện – Học sinh tích cực ” theo cách hiểu nôm na là ở đó có sự thương yêu , đùm bọc , giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên trong nhà trường ; có mối quan hệ xã hội tốt với các tổ chức chính trị xã hội ở địa phương ; PHHS ; các doanh nghiệp , nhà hảo tâm …để thu hút nguồn lực đầu tư cho nhà trường . Từ sự thương yêu đùm bọc , khoảng cách thầy trò được thu hẹp , thầy lên lớp với tinh thần “Tất cả vì học sinh thân yêu ” ; thầy đổi mới phương pháp dạy học để trò chủ động , tự tin , hứng thú chiếm lĩnh , tìm hiểu và khám phá những điều đã được học thông qua các hoạt động vui chơi ; ngoại khóa ; SHTT… Từ đó tạo được sự hứng thú đến trường và việc đến trường là một nhu cầu của học sinh . Như vậy , nếu tổ chức thực hiện tốt phong trào thì chúng  ta có được một mô hình giáo dục hiện đại mà ở đó chứa đựng tình yêu thương , đùm bọc , nhân ái , sẻ chia và thông cảm …đồng thời giúp cho học sinh có một thói quen , một nhân cách vững vàng : Tự trọng , tự tin trong việc tìm tòi và chiếm lĩnh kiến thức  một cách linh hoạt , sáng tạo … Như vậy chúng ta đã thực hiện được mong muốn của Hồ Chủ Tịch về giáo dục đó là “Đào tạo và bồi dưỡng thế hệ cách mạng vừa ‘hồng ’ vừa ‘chuyên’ ” đáp ứng được các yêu cầu trong thời kì CNH-HĐH đất nước .

    II.2 – THỰC TRẠNG .

              1- Thuận lợi – Khó khăn

    Trường tiểu học Eawy là một trường vùng sâu –xa , có tỷ lệ HSDT cao ( khoảng 96%) , mật độ dân cư và khoảng cách tới trường của học sinh không ổn định  . Đội ngũ GV có nhiều thế hệ cùng công tác trong trường . Vì vậy có những thuận lợi – khó khăn như sau :

    a-Thuận lợi :

    -             Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp ngành tại địa phương ; Sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của PGD-ĐT trong công tác chuyên môn nói chung và công tác thực hiện phong     trào nói riêng .

    -             Mặc dù là trường có tỷ lệ HSDT chiếm cao (>96%)  nhưng số lượng dân tộc không cao ( Nhà trường quản lí từ 5 đến 6 dân tộc : Tày , Nùng , Mường , Mán , Thái , Kinh ) và không có học sinh người dân tộc tại chỗ .

    -             Địa bàn quản lí của nhà trường rộng nhưng tương đối tập trung nên có những thuận lợi nhất định

    -             Phần lớn PHHS quan tâm tới con em trong việc huy động và động viên con em đến trường .

    -         Phần lớn CBGV-CNV của nhà trường là người tại chỗ ( Có hộ khẩu thường trú tại Eawy ) nên ít có sự biến động về nhân sự .

    b-Khó khăn .

    -             CSVC nhà trường thiếu thốn , manh mún  không đáp ứng được yêu cầu .

    -             Cảnh quan sư phạm thiếu sự quy hoạch đồng bộ nên mất đi tính thẩm mỹ mà nhà trường cần phải có .

    -             Học sinh đến trường với một tâm thế nặng nề , gò bó do áp lực của PHHS  và thầy cô giáo, khả năng giao tiếp còn nhiều hạn chế  đặc biệt đối với học sinh đầu cấp ( HS giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ nhiều hơn tiếng Việt ) .

    -             Giáo viên có sự giao thoa của nhiều thế hệ đào tạo , có sự chênh lệch lớn về năng lực chuyên môn ; kinh nghiệm ; tuổi đời ; quan điểm và nhận thức về việc đổi mới phương pháp – mô hình tổ chức dạy học ; điều kiện tài chính … Phần lớn GV gặp khó khăn về kinh tế nên chưa có sự đầu tư nghiêm túc vào công tác chuyên môn .

    -             Sự quan tâm của địa phương còn mang nặng tính chỉ đạo , chưa có sự vào cuộc một cách nghiêm túc , chủ động  đặc biệt là trong việc chỉ đạo các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp với nhà trường trong công tác tổ chức thực hiện phong trào .

    -             Một bộ phận không nhỏ PHHS chưa thực sự quan tâm tới học sinh đặc biệt là phương pháp giáo dục trẻ còn mang nặng tính áp dặt ; chưa có sự đồng thuận và phối hợp với nhà trường trong công tác xây dựng 3 môi trường giáo dục mà vẫn mang nặng tư tưởng khoán trắng cho nhà trường .

    -             Việc khơi dậy , tổ chức bảo tồn , bảo tàng các nét văn hóa truyền thống của dân tộc bị lãng quên trong học sinh  - PHHS kể cả GV là người dân tộc .

    -             ….

    2-    Thành công – Hạn chế .

    - Thành công : Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển của nhà trường , đặc biệt trong giai đoạn hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện – Học sinh tích cực” . nhà trường đã cố gắng nỗ lực hết mình để từng bước khắc phục khó khăn đưa nhà trường đi lên trong điều kiện nhà trường còn gặp nhiều khó khăn như CSVC – Trang thiết bị dạy học thiếu thốn ; Đội ngũ GV không đồng đều về tay nghề ; Đội ngũ CBQL còn trẻ hạn chế về kinh nghiệm quản lí … nhưng nhà trường vẫn vững vàng và từng bước khẳng định vị trí của nhà trường trên mọi mặt của ngành giáo dục Eahleo.

    - Hạn chế : Việc nắm bắt và hiểu đúng nghĩa của phong trào “xây dựng THTT-HSTC ” của đa số CBGV-CNV trong nhà trường và địa phương chưa thấu đáo còn phiến diện .

     Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng trong công tác tìm kiếm thông tin , mày mò tự học – tự làm để tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào nhưng trong thực tế hiệu quả đạt được chưa cao .

    c- Mặt mạnh – Mặt yếu

    - Mặt mạnh : Nhờ những hiệu quả thông qua việc tổ chức thực hiện phong trào có tác động trực tiếp tới các hoạt động của nhà trường , đặc biệt trong tư duy của đội ngũ CBQL nên đã có những nhận thức đúng đắn từ đó có kế hoạch điều chỉnh cụ thể các hoạt động liên quan một cách nhạy bén , linh hoạt và hiệu quả .

    - Mặt Yếu : Do phong trào mang  tính trừu tượng , không có mô hình cụ thể nên có những giai đoạn , công đoạn hiểu sai về phong trào từ đó tổ chức thực hiện không hiệu quả . Mặt khác , với điều kiện thực tế tại địa phương , có nhiều tiêu chí mà nhà trường không thể tổ chức thực hiện trong khi đó lại hết sức lúng túng , bị động trong việc tìm nội dung thay thế cho phù hợp với yêu cầu và thực tế tại địa phương.

     

    d- Các nguyên nhân , các yếu tố tác động : Trong quá trình chỉ đạo thực tiễn phong trào , để xảy ra những tồn tại , hạn chế trong công việc là do những nguyên nhân sau :

    1. Yếu tố chủ quan (con người) :

    -         Trình độ nhận thức về phong trào của CBGV-CNV trong nhà trường không đồng đều nên xảy ra tình trạng đôi khi không thống nhất về quan điểm nhất là quan điểm chỉ đạo .

    -         Trong điều kiện và khả năng có thể của mỗi cá nhân đã cố gắng , nỗ lực để thực hiện nhưng hiệu quả chưa cao .

    -         Vẫn xảy ra tình trạng GV thờ ơ , không quan tâm thậm chí còn vô cảm trong việc tổ chức thực hiện .

    -         GV có nhiều loại hình đào tạo ; năng lực chuyên môn ; tuổi nghề không đồng đều nên việc linh hoạt vận dụng và đổi mới PPDH hết sức khó khăn .

    2-Yếu tố  khách quan :

    -         CSVC – Trang thiết bị dạy học của nhà trường nghèo nàn , lạc hậu .

    -         Do đặc thù của nhà trường với tỷ lệ HSDT cao nên phong tục , tập quán khác nhau giữa HS-HS ; GV- HS ; Nhà trường với PHHS …tạo ra khoảng cách trong giao tiếp , giáo dục …

    -         Trường đóng chân trên địa bàn rộng , địa phương có nhiều trường (3 trường tiểu học ; 2 trường THCS và 01 trường MN) nên sự quan tâm của địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội tới nhà trường còn nhiều hạn chế .

    -         Điều kiện kinh tế của đa số GV còn khó khăn nên chưa thực sự tâm huyết với công việc của bản thân .

    -         PHHS còn có tư tưởng khoán trắng việc GD con em cho nhà trường .

    -         ….

    e- Phân tích đánh giá các vấn đề thực trạng.

                  Thực trạng khó khăn nhất trong công tác tổ chức thực hiện phong trào “Xây dựng THTT-HSTC ” đó là sự thống nhất và đồng lòng của mỗi cá nhân với phong trào ; Sự đoàn kết , chung tay hành động vì một mục đích chung ; Sự đồng bộ , nhịp nhàng giữa các tổ chức trong công tác chỉ đạo của nhà trường ; Sự đồng thuận về chủ trương , quan điểm của địa phương , các cấp ngành đặc biệt là PHHS …

                  Thực tế , nhà trường đóng chân ở một xã vùng sâu – xa của huyện , điều kiện CSVC – Trang thiết bị dạy học khó khăn ; môi trường giáo dục chưa thuận lợi , nhà trường  chưa xây dựng được mối quan hệ phối hợp  giữa nhà trường – Gia đình và Xã hội . Mặt khác , trình độ dân trí ở đây còn thấp bởi phần lớn HS là đồng bào các dân tộc phía bắc di dân theo hình thức dơ cư tự do nên việc tăng – giảm học sinh ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch xây dựng và phát triển nhà trường một cách bền vững . Tập tục sống , quan niệm sống cũng là một rào cản không nhỏ tới nhà trường đặc biệt trong công tác duy trì , vận động HS đến trường đảm bảo các chỉ tiêu PCGDTH và PCGDTHĐĐT. Chính vì vậy , nhà trường cùng một lúc phải giải quyết đồng thời 2 nội dung quan trọng đó là tổ chức thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ giáo dục và “Xây dựng THTT-HSTC ”

                  Để giải quyết những khó khăn , vướng mắc đó thì vai trò của người CBQL là then chốt , là chìa khóa để giải quyết mọi vấn đề . Sinh thời Bác Hồ đã nói “Cán bộ nào phong trào ấy ” và thực tế dã chứng minh rằng “Ở đâu mà người đứng đầu năng nổ , nhiệt tình , tâm huyết với công việc  thì ở đó hiệu quả công việc sẽ cao . ” Chính vì vậy , bản thân luôn trăn trở , suy nghĩ tìm tòi các phương pháp , biện pháp để giải quyết những khó khăn trong công tác chỉ đạo và tổ chức thực hiện phong trào . Cụ thể :

    -         Để mọi thành viên trong nhà trường thống nhất và hưởng ứng phong trào một cách chủ động thì CBQL phải hiểu rõ vị trí ,vai trò và nhiệm vụ  của mình ; hiểu rõ nội dung – mục đích của phong trào để tuyên truyền , vận động và giải thích để mọi người hiểu và làm theo .

    -         Để tạo sự đồng bộ cần có một quy chế phối hợp giữa BGH và các tổ chức , đoàn thể trong nhà trường để thống nhất trong công tác chỉ đạo và điều hành ; Thành lập Ban chỉ đạo , phân công từng cá nhân phụ trách từng nội dung công việc …đồng thời thường xuyên kiểm tra , đôn đốc kịp thời ; Tổ chức sơ kết , tổng kết đánh giá để biểu dương khen thưởng cá nhân , tổ chức và điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với thực tiễn nhằm phát huy hiệu quả của từng kế hoạch .

    -         Để tạo được sự đồng thuận  nhanh nhất , cao nhất đó chính là hiệu quả công việc . Từ hiệu quả công việc , PHHS ; các tổ chức xã hội sẽ nhìn nhận , đánh giá khách quan và sẽ hiểu được tác động của phong trào tới công tác xây dựng một môi trường giáo dục trong sạch và lành mạnh và rõ ràng họ sẽ hiểu mình phải làm gì để góp sức cho phong trào . Vì vậy , trước khi quyết định tổ chức một hoạt động nào dó cần đặc biệt lưu ý tới tính hiệu quả ; các biện pháp tổ chức để đạt được hiệu quả cao nhất .

    ….

         Tóm lại : Thực trạng tại đơn vị khi mới bắt tay vào thực hiện phong trào có muôn vàn khó khăn , vướng mắc và phức tạp đòi hỏi công tác chỉ đạo phải khoa học , có tầm nhìn và chiều sâu để đạt được hiệu quả cao nhất . Trong suốt 5 năm 2008-2013 , công tác chỉ đạo của nhà trường đã đạt được nhiều thành công nhưng cũng không tránh khỏi sai lầm , khiếm khuyết . tuy nhiên , với tinh thần dũng cảm , quyết tâm dám nhìn thẳng vào những sai lầm , khuyết điểm , biết đứng lên từ thất bại ; biết lắng nghe dư luận …nhà trường đã vững vàng đi lên đã và đang tổ chức thực hiện tốt và có hiệu quả phong trào . Để có những thành tích đó là nhờ vào sự đoàn kết , đồng sức đồng lòng của tập thể nhưng điểm nhấn quan trọng nhất trong đó là vai trò của những người quản lí bởi từ CBQL sẽ có những kế hoạch chỉ đạo hiệu quả và hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao. Từ thực tế đó , bản thân xin mạnh dạn trình bày môt số giải pháp – biện pháp mà cá nhân đã xây dựng và chỉ đạo BGH nhà trường tổ chức thực hiện trong công tác xây dựng phong trào có hiệu quả thiết thực .

    II.3 – GIẢI PHÁP VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN .

              Như đã trình bày ở trên trong khuôn khổ đề tài này , bản thân chỉ tổng hợp những việc đã làm , đã áp dụng và có hiệu quả trong khuôn khổ , điều kiện thực tế của nhà trường hay nói cách khác đây là bản tổng hợp những kinh nghiệm  mà bản thân và tập thể nhà trường đã thực hiện trong 5 năm qua 2008-2013 .

    1-                    Mục tiêu của các giải pháp : Sử dụng  đồng bộ các giải pháp , biện pháp và nghiệp vụ quản lí nhằm đạt các mục tiêu sau :

              - Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài trường học để xây dựng môi   trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội.

    -         Phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh trong các hoạt động  giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng.

    -      Thu hút 100% trẻ em trong độ tuổi đến  trường

    -          Nhà trường phải phấn đấu trở thành trung tâm văn hóa, giáo dục ở địa phương.

    -          Tập thể sư phạm  phải thật sự Thân thiện với nhau. Xây dựng “Trường học thân thiện” phải đảm bảo cơ sở vật chất .

    2-    Nội dung thực hiện các giải pháp – biện pháp .

    2.1 Huy động sức mạnh tổng hợp của các lực lượng trong và ngoài trường học để xây dựng môi   trường giáo dục an toàn, thân thiện, hiệu quả, phù hợp với điều kiện của địa phương và đáp ứng nhu cầu xã hội.

              Mục tiêu này là một trong những mục tiêu lớn và hết sức quan trọng trong việc tổ chức thực hiện phong trào . Với điều kiện thực tế nhà trường nói riêng và ngành giáo dục nói chung còn gặp rất nhiều khó khăn trong công tác xây dựng CSVC , nhiều đơn vị trường học của  ngành còn đang thiếu phòng học cho học sinh học tập nên việc quan tâm , đầu tư cho công tác xây dựng môi trường và cảnh quan sư phạm của một đơn vị  là bất khả thi . Trăn trở trước những khó khăn của ngành cũng như của nhà trường về công tác xây dựng CSVC đồng thời thực hiện tốt phong trào “Xây dựng THTT-HSTC ” bản thân đã mạnh dạn trình bày và tranh thủ ý kiến chỉ đạo của chi bộ nhà trường ; đưa những suy nghĩ , trăn trở của bản thân ra để tranh thủ ý kiến của tập thể đồng thời có những ý kiến tham mưu có hiệu quả cho ý tưởng .

              Trong thời điểm đó , mục tiêu lớn nhất của nhà trường đề ra là có được hệ thống sân chơi – bãi tập ; nhà vệ sinh cho học sinh và từng bước quy hoạch nhà trường một cách khoa học . Bài toán khó được nêu ra cần có nhiều ý tưởng đặc biệt trong công tác quy hoạch từng khu vực sao cho hợp lí với những gì đang tồn tại và không bị lỗi khi xây dựng các công trình mới trong tương lai . Để làm được việc này , tôi dề xuất mọi thành viên trong hội đồng nhà trường cùng phác họa tổng thể quy hoạch sau đó tổng hợp bằng cách chắt lọc các ý tưởng hình thành bản quy hoạc tổng thể của nhà trường . Có được bản phác họa tổng thể nhà trường tiến hành tổ chức thực hiện . Tuy nhiên , từ quy hoạch tổng thể đến tổ chức thực hiện là cả một quá trình dài hơi bởi nó phụ thuộc rất nhều vào yếu tố tài chính . Để giải quyết được vấn đề cần có một kế hoạch chi tiết , cụ thể trên cơ sở tiết kiệm , sử dụng nguồn kinh phí huy động ở mức thấp nhất . Đây là một trong những trăn trở lớn nhất của bản thân để tham mưu với hội CMHS tổ chức thực hiện . Sự trăn trở và tỏ chức thử nghiệm có hiệu quả , nhà trường được ghi nhận và tặng giấy khen của UBND huyện về thành tích XHHGD . Sau đây là một vài biện pháp bản thân đã tổ chức thực hiện và phát huy rất tốt hiệu quả .

              Tổ chức quy hoạch , cải tạo mặt bằng sân trường : Do điều kiện tự nhiên , nhà trường nằm trên sườn đồi nên địa thế tương đối dốc nên việc quy hoạch và tạo mặt bằng sân chơi đặc biệt là sân bóng đa cho học sinh là hết sức khó khăn và đòi hỏi cần có một nguồn kinh phí lớn để thực hiện việc san ủi mặt bằng nhưng  mức thu nhập của phần lớn PHHS nhà trường  là rất thấp nên việc tổ chức huy động bằng tiền là hết sức  khó khăn . Trăn trở trước công việc và từ trăn trở nảy sinh ý tưởng đó là : “Thay bằng việc huy động đóng góp bằng tiền mặt bằng việc huy động đóng góp nhân công , bởi việc này dân có thể làm được không nhất thiết phải đi thuê ” . Từ suy nghĩ đó tôi đề xuất với Hội PHHS và được tán thành ngay và chỉ trong một ngày , với sự  có mặt và giúp đỡ của 100% CBGV-CNV nhà trường và PHHS toàn bộ sân trường đã được san phẳng một cách tương đối tốt đảm bảo yêu  cầu cho khu vực sân chơi bãi tập của học sinh . Từ thành công của việc tạo mặt bằng sân chơi , nhà trường đã áp dụng kinh nghiệm này vào rất nhiều hoạt động như tạo hoa viên ; tu sửa sân trường ; làm hòn non bộ … với mức độ đầu tư kinh phí chỉ bằng 30 đến 45 % so với việc phải đi thuê mướn .

    Thành công lớn nhất của hoạt động này đó là sự vào cuộc chủ động , tích cực của toàn thể PHHS trong nhà trường , tạo được sự đồng thuận – thoải mái – cởi mở trong công việc . PHHS hào hứng , tự nguyện hỗ trợ phương tiện như xe càng ; các dụng cụ lao động …và không có cảm giác bị áp lực “phải đóng góp” , họ làm với tất cả tinh thần trách nhiệm , tính tự giác , tình yêu thương để  có một khu vực vui chơi an toàn cho con em họ đồng thời thông qua công việc , PHHS có cơ hội để tìm hiểu kĩ hơn về nhà trường ; các thầy cô giáo ; cởi mở hơn trong việc góp ý -  trao đổi với nhà trường xóa tan được khoảng cách không cần thiết trước đây giữa PHHS với nhà trường đặc biệt đối với hiệu trưởng . Thông qua buổi lao động , tôi thấm thía và ngẫm ra nhiều điều mới mẻ đó là tình cảm , tâm tư nguyện vọng của PHHS đó là họ cần gì từ nhà trường ; từ thầy cô…và nhiều ý kiến đóng góp cho công tác huy động sức dân sao cho hợp lí .

    Như vậy , thay bằng việc đi thuê và huy động dân đóng góp tiền mặt bằng việc huy động ngày công sẽ có hiệu quả vượt trội về mọi mặt từ  góc độ  tâm lí đến góc độ tài chính . Về góc độ tâm lý thì mọi người đều cảm nhận thấy đó là trách nhiệm của gia đình với con em , với nhà trường nên họ làm việc bằng tất cả tâm huyết , kinh nghiệm và khả năng sáng tạo của mình đồng thời tạo được mối quan hệ thân thiện giữa PHHS với GV , với nhà trường . Những khoảnh khắc , hình ảnh thân thiện giữa PHHS với CBGV-CNV nhà trường ; PHHS với PHHS  trong những buổi lao động tập thể là những ấn tượng đẹp , sâu sắc với mỗi người .

    Về góc độ tài chính thì nhìn thấy hiệu quả rõ rệt đó là sự tiết kiệm tiền của . Một ví dụ cụ thể trong việc tiết kiệm đó là : Năm học 2010-2011 , nhà trường muốn xây dựng một hòn non bộ mini trong khuôn viên nhà trường để tạo cảnh quan sư phạm , vì vậy việc tìm hiểu giá cả và tìm thợ là vấn đề cần quan tâm . Thông qua việc khảo sát , báo giá của một số cơ sở làm non bộ tại thị trấn thì giá một hòn non bộ mini theo quy cách nhà trường đề ra dao động vào khoảng từ 15 đến 17 triệu đồng . Xét thấy mức kinh phí quá cao , nếu chia đều cho HS thì tối thiểu mỗi HS phải đóng góp 30.000đ trong khi đó trong đội ngũ GV ; PHHS có những người có tay nghề xây dựng nên nhà trường quyết định “Tự làm” . Sản phẩm của chúng tôi có thể không đẹp bằng thợ chuyên nghiệp nhưng thể hiện trong đó là tâm huyết , là ý tưởng của cả tập thể và đặc biệt là giá thành chỉ hết 5triệu đồng , nghĩa là bằng khoảng 35% so với việc thuê mướn .

    Tóm lại : Trong hoạt động này chúng tôi thấy hết sức hiệu quả về nhiều khía cạnh , một việc làm hết sức bình thường nhưng hiệu quả thì ngoài sự mong đợi . Đó là :

    -             Về tài chính : Giảm được giá thành sản phẩm , đảm bảo chất lượng hàng hóa nên giảm việc huy động .

    -             Về tâm lí : Tạo được sự cảm thông , chia sẻ , đoàn kết … để cùng chung sức xây dựng nhà trường vững mạnh .

    -             Về tác động xã hội : Tạo được sức lan tỏa có chiều sâu tới từng PHHS từ đó có ảnh hưởng đến tâm lí và sự vào cuộc của các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn đồng thời giải quyết nhanh được những thiếu thốn về CSVC mà nếu như đi thuê mướn hoặc trông chờ đầu tư thì phải trong thời gian rất dài mới có được .

    -             Về ý thức : Mọi thành viên trong nhà trường đều trân trọng , nâng niu , bảo quản những sản phẩm do bàn tay mình tạo ra . Từ đó giáo dục học sinh có ý thức bảo quản tài sản công .

    -             Như vậy,  thông qua hoạt động lao động tập thể , nhà trường đã xây dựng được mối quan hệ gần gũi , thân thiện với mọi thành phần trong xã hội đặc biệt là việc tạo ra được tiếng nói chung giữa nhà trường – PHHS – các tổ chức xã hội trong công tác xây dựng CSVC và cải tạo cảnh quan , môi trường SP theo định hướng Xanh -  Sạch – Đẹp.

          * Một số thông tin tiêu biểu của nhà trường trong công tác huy động xây dựng CSVC từ nguồn XHH :

    -  Sửa chữa , nâng cấp cải tạo dãy phòng học cấp 4 thành nhà nhà hiệu bộ .

    -  Xây dựng hoa viên mini ; hòn non bộ .

    - Cải tạo mặt bằng sân bóng mini .

    - Trang bị hệ thống camera quan sát .

    - Xây dựng nhà bảo vệ ; sân trường ; tường rào ; nhà vệ sinh …

    -  Xây dựng khu vui chơi cho học sinh ( năm học 2012-2013, kinh phí 125 triệu đồng trong đó khu vui chơi liên hợp 110 triệu ; làm mặt bằng khu vui chơi bằng sân bê tông  trị giá 15 triệu ).

    - Hỗ trợ kinh phí cùng nhà trường mua sắm bàn ghế HS đạt chuẩn ; cây cảnh ; tu sửa nhỏ …


    2.2- Phát huy tính chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo của học sinh trong các hoạt động  giáo dục trong nhà trường và tại cộng đồng.

          * Trong cộng đồng

    Nhà trường chủ động ,linh hoạt , sáng tạo thay thế nội dung : “Mỗi trường học là địa chỉ nhận chăm sóc công trình văn hóa, lịch sử ở địa phương” bằng nội dung “Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc – Đưa các trò chơi dân gian vào các hoạt động ngoại khóa ; hoạt động đội –sao ” , và tích cực chăm lo xây dựng các công trình công cộng, trồng cây, chăm sóc cho đường làng , ngõ xóm sạch sẽ ; khuyến khích học sinh mặc trang phục truyền thống của dân tộc mình ,  đặc biệt trong các ngày lễ hội (Do địa bàn xã Eawy không có các di tích lịch sử )
          * Trong học tập :

     - Về đổi mới phương pháp dạy học : Quán triệt , chỉ đạo  , động viên để giáo viên có tinh thần trách  nhiệm với công việc ; có ý thức nghề nghiệp , luôn tận tâm tận lực trong công tác giảng dạy và giáo dục học sinh . Muốn vậy thì vai trò của hiệu trưởng là hết sức quan trọng bởi nó là mắt sích then chốt một yếu tố có tính bản lề quyết định sự thành bại của vấn đề .Điều trước tiên là hiệu trưởng phải hiểu được bản chất vấn đề để từ đó có kế hoach chỉ đạo phó hiệu trưởng phụ trách chuyên môn  xây dựng các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn , các biện phápchỉ đạo- giúp đỡ kịp  để giáo viên  mạnh dạn chuyển đổi phương pháp dạy học từ  lối dạy cũ thụ động “thầy đọc, trò chép”, “thầy giảng, trò nghe” sang lối dạy mới  “Thầy tổ chức, trò hoạt động”, “Thầy chủ đạo, trò chủ động”, “Thầy trò có quan hệ tương tác trong dạy – học” với quan điểm “dạy học lấy học sinh làm trung tâm” và “dạy học cá thể”… Có vậy mới phát huy được tính tự giác, tích cực học tập của các em, mới thực hiện được việc quan tâm đến từng em học sinh, nhất là đối với các em có hoàn cảnh khó khăn, các em học sinh “cá biệt”. Trường học thân thiện gắn bó chặt chẽ với việc phát huy tính tích cực của học sinh. Trong môi trường phát triển toàn diện đó, học sinh học tập hứng thú, chủ động tìm hiểu kiến thức dưới sự dìu dắt của thầy cô giáo, gắn chặt giữa học và hành, biết thư giãn khoa học, rèn luyện kỹ năng và phương pháp học tập, trong đó những yếu tố hết sức quan trọng là khả năng tự tìm hiểu, khám phá, sáng tạo.Để đáp ứng được những yêu cầu đó  , trong việc tổ chức chỉ đạo đổi mới phương pháp đòi hỏi người CBQL phải hết sức thận trọng  , cân nhắc và tính toán sao cho phù hợp với năng lực đội ngũ , phù hợp với điều kiện CSVC – Trang thiết bị dạy học hiện có ; phù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh …đồng thời phải biết trân trọng kế thừa và phát huy những cái tích cực trong phương pháp dạy học truyền thống tránh quan điểm đổi mới là tung hê tất cả cái cũ đã lạc hậu . Để làm được điều này đòi hỏi CBQL phải am hiểu phương pháp dạy học , có sự đồng cảm với Gv để tìm ra và lựa chọn phương pháp phù hợp nhất tránh áp dặt quan điểm cá nhân “Phải thế này , phải thế kia ” mới là đổi mới bởi thực tế GV mới là người hiểu đối tượng học sinh hơn ai hết , từ đó họ sẽ tìm ra những phương pháp hữu hiệu nhất . Vấn đề quan trọng và mấu chốt là sự theo dõi , động viên , cổ vũ của CBQL để GV mạnh dạn áp dụng và kiểm nghiệm những ý tưởng của mình trên cơ sở cho phép để tìm ra những biện pháp , hình thức tổ chức dạy học có hiệu quả , sáng tạo .
              - Mỗi giáo viên phải thật sự công tâm trong quan hệ ứng xử. Điều này cực kỳ khó, bởi người ta có thể chia đều tiền bạc, chứ khó “chia đều” tình cảm. Để làm được điều này thì mỗi  thầy, cô giáo phải rèn bằng được cho mình sự công tâm trong quan hệ ứng xử, công tâm trong chăm sóc các em (em có hoàn cảnh khó khăn hơn, chăm sóc nhiều hơn, chứ không phải công tâm là cào bằng sự chăm sóc), công tâm trong việc đánh giá, cho điểm (nghĩa là phải công bằng, khách quan với lương tâm và thiên chức nhà giáo). Để làm được điều này thì CBQL phải tăng cường kiểm tra chuyên đề công tác chấm chữa bài ; Nhật kí chủ nhiệm của GV để điều chỉnh .
              - Mỗi CBGV phải coi trọng việc giáo dục bình đẳng giới để các học sinh nam, nữ biết quý trọng nhau, sống hòa đồng với nhau. Phải rèn cho học sinh kỹ năng sống để các em thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội , bởi cuộc sống nhà trường là cuộc sống thực, ngay ngày hôm nay, ngay bây giờ, chứ không phải chuẩn bị cho tương lai. Đừng để trò phải “ngơ ngác” trước cuộc sống xã hội đang từng ngày thay đổi bởi thiếu sự liên hệ thực tiễn của giáo viên .

    * Một số thông tin về chất lượng đào tạo:

              Năm học  2007-2008 : TSHS ; 526 em trong đó xếp loại  Giỏi : 63 em ; Khá :184 em ; TB:251  em  ; Yếu :28em (Huy động 100% trẻ đến trường)

              Năm học  2008-2009 : TSHS ; 498 em trong đó xếp loại  Giỏi : 52 em ; Khá : 197em ; TB: 225  em  ; Yếu :24em (Huy động 100% trẻ đến trường)

              Năm học  2009-2010 : TSHS : 491 em trong đó xếp loại  Giỏi : 93 em ; Khá : 152em ; TB: 232 em  ; Yếu :14em (Huy động 100% trẻ đến trường kể cả trẻ KT)

              Năm học  2010-2011 : TSHS ; 466 em trong đó xếp loại  Giỏi : 113 em ; Khá : 148em ; TB: 190  em  ; Yếu :8em . (Huy động 100% trẻ đến trường kể cả trẻ KT)

              Năm học 2011-2012 : TSHS ; 432 em trong đó xếp loại  Giỏi : 102 em ; Khá : 134em ; TB: 190  em  ; Yếu :6em . (Huy động 100% trẻ đến trường kể cả trẻ KT)

              Ngoài ra , Hs nhà trường đã tham gia có hiệu quả các hoạt động phong trào do ngành , địa phương và nhà trường tổ chức , luôn đạt giải cao trong các kì thi ở mọi cấp như Tiếng hát dân ca ; Giao lưu tiếng Việt …Đặc biệt trong năm học 2012-2013 , tính đến thời điểm hiện tại , nhà trường đã có những thành tích như HS giỏi kì thi Violimpic Tiếng Anh cấp tỉnh 2 em , cấp huyện 3em  ; Môn toán có 7 HS cấp huyện , 01 hs tham gia dự thi cấp tỉnh ; HS tham gia đội tuyển của phòng tham gia Giao lưu Tiếng Việt cấp tỉnh đạt giải nhì ... Đây chính là kết quả khẳng định rõ nét nhất  hiệu quả của phong trào trong công tác nâng cao chất lượng dạy &học .

    * Trong việc xây dựng cảnh quan sư phạm nhà trường .

              Chỉ đạo TPT Đội phối hợp với các anh chị phụ trách , bộ phận y tế học đường  , các tổ chức trong nhà trường lập kế hoạch tổ chức trang trí lớp học theo định hướng :

    “ Lớp xanh hơn, sạch hơn, đẹp hơn ”  đồng thời có kế hoạch thường xuyên , liên tục để bảo đảm trường sạch sẽ, có cây xanh,  thoáng mát. Để đáp ứng được những yêu cầu đó ,trường tổ chức cho học sinh trồng cây tại nhà trường vào đầu mùa mưa  và có kế hoạch chăm sóc cây thường xuyên đảm bảo tỷ lệ sống cao và phát triển tốt tạo hệ thống bóng mát cho nhà trường

              Về khu vực  nhà vệ sinh : Có kế hoạch chỉ đạo cụ thể trong việc  giữ gìn nhà vệ sinh sạch sẽ, không để xảy ra tình trạng ô nhiễm , nặng mùi ảnh hưởng đến  lớp học và cảnh quan môi trường nhà trường . Để làm được điều này không hề dễ bởi HS tiểu học còn rất nhỏ , ý thức tập thể còn hạn chế đặc biệt trong việc tiểu tiện nên việc hạn chế mùi gây ô&l


    Nhắn tin cho tác giả
    Nguyễn Trường Trung @ 14:57 15/04/2013
    Số lượt xem: 263
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến